User :
 
Pass :
.
 
m kiếm
. _ . Thông báo ngày đăng ký cuối cùng lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản về việc thay đổi phương án tăng tăng vốn điều lệ năm 2010 . _ . Nghị quyết Hội đồng quản trị Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm - Intimex . _ . Báo cáo quyết toán 6 tháng đầu năm 2010 Công ty cổ phần bê tông Hoà Cầm - Intimex (đã được soát xét của kiểm toán) . _ . Quyết toán Quý II năm 2010 Công ty cổ phần bê tông Hoà Cầm - Intimex . _ . Thông báo giao dịch cổ phiếu của cổ đông lớn . _ . Ngày giao dịch chính thức 324.560 cổ phần niêm yết bổ sung . _ . Cổ phiếu công ty cp bê tông Hoà Cầm - Intimex được chấp thuận niêm yết bổ sung . _ . Thông báo về sở hữu của cổ đông lớn: . _ . Quyết toán Quý I năm 2010 Công ty cổ phần bê tông Hoà Cầm - Intimex . _ . Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010. . _ . HCC: Được chấp thuận nguyên tắc niêm yết bổ sung 324.560 cp . _ . Mời họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010. . _ . Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm - Intimex thông báo ngày đăng ký cuối cùng để tiến hành tổ chức ĐHCĐ thường niên năm 2010 . _ . Báo cáo tài chính Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm - Intimex năm 2009 - đã có kiểm toán . _ . Báo cáo thường niên năm 2009 Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm - Intimex . _ . Báo cáo tài chính tóm tắt quý IV năm 2009. . _ . Báo cáo tài chính 9 tháng đầu năm 2009 đã có kiểm toán . _ . Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2009. . _ . Thông báo về ngày đăng ký cuối cùng chốt danh sách cổ đông để Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2009. . _ . Báo cáo tài chính tóm tắt quý II năm 2009. . _ . Báo cáo kết quả giao dịch cổ phiếu của cổ đông nhà nước. . _ . Báo cáo tài chính tóm tắt Quý I năm 2009 . _ . 17/4 - Chốt danh sách trả cổ tức đợt 3 năm 2008 (500 đ/cp) . _ . Nghị Quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2009 . _ . Quyết toán năm 2008 - Kiểm toán ACC . _ . Báo cáo thường niên, Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm năm 2008 . _ . HCC: Công ty Xây dựng Quảng Nam đăng ký bán 835.380 cp . _ . Thông báo Đại hội cổ đông thường niên năm 2009. . _ . Báo cáo tài chính Quý 4 năm 2008 . _ . Thông báo về việc bổ nhiệm chức danh phó giám đốc công ty cổ phần bê tông hòa cầm . _ . Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư của Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm năm 2009. . _ . HCC: thông báo kết quả giao dịch cổ phiếu của cổ đông nội bộ . _ . Báo cáo tài chính và giải trình quí 3 năm 2008. . _ . Báo cáo tài chính và kết quả kinh doanh quí II năm 2008 . _ . Sáng 10/06/2008 UBND Tỉnh Quảng Nam đã tổ chức buổi lễ trao tặng Huân chương lao động hạng 3 cho Công ty cổ phần bê tông Hoà Cầm. . _ . Một số hợp đồng kinh tế được ký kết và thực hiện trong Quý I năm 2008. . _ . Báo cáo tài chính và kết quả kinh doanh quí I năm 2008 . _ . Thông báo thay đổi nhân sự chức danh giám đốc, phó giám đốc,kế toán trưởng công ty cổ phần bê tông hòa cầm .. Tin tức và sự kiện

      Các tin khác :

  Thông báo ngày đăng ký cuối cùng lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản về việc thay đổi phương án tăng tăng vốn điều lệ năm 2010
  Nghị quyết Hội đồng quản trị Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm - Intimex
  Báo cáo quyết toán 6 tháng đầu năm 2010 Công ty cổ phần bê tông Hoà Cầm - Intimex (đã được soát xét của kiểm toán)
  Quyết toán Quý II năm 2010 Công ty cổ phần bê tông Hoà Cầm - Intimex
  Thông báo giao dịch cổ phiếu của cổ đông lớn
  Ngày giao dịch chính thức 324.560 cổ phần niêm yết bổ sung
  Cổ phiếu công ty cp bê tông Hoà Cầm - Intimex được chấp thuận niêm yết bổ sung
  Thông báo về sở hữu của cổ đông lớn:
  Quyết toán Quý I năm 2010 Công ty cổ phần bê tông Hoà Cầm - Intimex
  Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010.
  HCC: Được chấp thuận nguyên tắc niêm yết bổ sung 324.560 cp
  Mời họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010.
  Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm - Intimex thông báo ngày đăng ký cuối cùng để tiến hành tổ chức ĐHCĐ thường niên năm 2010
  Báo cáo tài chính Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm - Intimex năm 2009 - đã có kiểm toán
  Báo cáo thường niên năm 2009 Công ty cổ phần bê tông Hòa Cầm - Intimex

Coteccons khởi công công trình Marble Mountain Beach Resort do Tập đoàn Indochina Land đầu tư.

 Coteccons vừa khởi công công trình Marble Mountain Beach Resort tại Hòa Hải, Quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng do Indochina Land đầu tư khoảng 100 triệu USD
Theo thông tin từ Conteccons, sau khi xây dựng xong các công trình như Khu nghỉ mát Nam Hải Resort, Cao ốc Riverside Tower tại Đà Nẵng… IndochinaLand tiếp tục giao công ty triển khai dự án Marble Mountain Beach Resort.  

Theo quy hoạch, đây là một trong những khu du lịch biển đẹp nhất và hiện đại nhất Việt Nam, với tổng giá trị đầu tư cho dự án khoảng 100 triệu USD.

Dự án hiện đang được triển khai các công tác ban đầu. Sau khu nghỉ mát Nam Hải tại Đà Nẵng và Hồ Tràm Sanctuary tại Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì đây là dự án Resort lớn thứ 3 Coteccons triển khai xây dựng.  

Dự án Marble Mountain Beach Resort do Indochina Land đầu tư có khoảng 250 phòng khách sạn cao cấp, 150 căn hộ và khoảng 40 căn biệt thự nằm dọc bờ biển thuộc phường Hòa Hải, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.
(Theo Cafe F)

...
Khu phức hợp Blooming Tower Danang - toà tháp đôi True Friends Park

Ngày 30/5, Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Hàn Quốc (KID Co., Ltd) đã khởi công xây dựng toà tháp đôi True Friends Park - Blooming Tower Danang cao 37 tầng với tổng vốn đầu tư 90 triệu USD.
Dự án khu phức hợp cao ốc căn hộ thương mại này nằm tại khu đô thị mới Đa Phước, ngay khu vực cửa sông Hàn nhìn ra vịnh Đà Nẵng, cạnh cầu dây võng Thuận Phước. Đây là tòa tháp đôi đầu tiên được xây dựng tại Đà Nẵng.
Blooming Tower có tổng diện tích sàn xây dựng hơn 120.000 m2 trên diện tích đất hơn 10.770 m2, cao 37 tầng (trong đó có 2 tầng hầm), gồm 486 căn hộ (diện tích mỗi căn từ 41 m2 đến 150 m2), cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại, các hạng mục giải trí, thể thao, bãi đỗ xe cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ hoàn chỉnh để bán, cho thuê và cung cấp các dịch vụ liên quan.
KID đã mời một trong những công ty thiết kế hàng đầu của Hàn Quốc là Aum-n-Lee kết hợp với Viện Quy hoạch xây dựng Đà Nẵng thiết kế sơ bộ. Công ty Thomas PP làm khảo sát về kết cấu để đảm bảo độ vững chãi cho công trình trong điều kiện thời tiết bão lụt ở miền Trung. Các công ty Byuksan và 3id (Hàn Quốc) đảm nhận phần xây dựng và thiết kế nội thất.

Khu phức hợp này được nhận giấy phép đầu tư từ tháng 11/2006. Theo kế hoạch, vào đầu năm 2009, dự án sẽ khai trương căn hộ mẫu và đến năm 2010, sẽ hoàn thành toàn bộ, đưa vào khai thác.

Theo dothi

...
VinaCapital khởi công dự án lớn nhất tại Đà Nẵng

Sáng 27/3, tập đoàn VinaCapital đã chính thức khởi công xây dựng dự án Capital Square – World Trade Center Đà Nẵng trên diện tích 9ha ở phía Đông cầu Sông Hàn với tổng vốn đầu tư 325 triệu USD. Đây là dự án thứ 2 của VinaCapital và là dự án FDI có số vốn đầu tư lớn nhất vào Đà Nẵng tính đến thời điểm này. Trong giai đoạn 1 dự kiến hoàn thành vào năm 2011, tại đây sẽ hình thành khu căn hộ cao cấp, trung tâm thương mại, khách sạn 5 sao và khu văn phòng cho thuê. Giai đoạn 2 dự kiến đến năm 2014 sẽ xây dựng thêm các khu căn hộ, biệt thự cao cấp và trường học quốc tế. Giai đoạn 3 dự kiến đến năm 2017 sẽ hoàn tất việc xây dựng một trung tâm hội nghị quốc tế và khách sạn 4 sao. (Hải Châu)

...
Ứng dụng công nghệ mới trong thiết kế nhà cao tầng. Công nghệ cốp pha trượt lõi nhà cao tầng và sàn panel dự ứng lực

Khu đô thị mới Trung Hoà-Nhân Chính, Hà Nội là công trình lần đầu tiên áp dụng một công nghệ hoàn toàn mới tại Việt Nam- Công nghệ cốp pha trượt lõi nhà cao tầng và sàn panel dự ứng lực. Sự thành công này là kết qua của sự hợp tác giữa liên doanh VINACONEX - ROSE CONSTRUCTION và Trung tâm Nghiên cứu thiết kế và ứng dụng công nghệ mới VINACONEX ( Tiền thân của VINACONEX R&D, JSC.)

 2.3. Công nghệ ván khuôn trượt

Phương pháp trượt sử dụng khái niệm ép đùn trong thi công bê tông. Kích thuỷ lực đưa cốp pha nâng lên một cách liên tục theo phương đứng trong khi quá trình đổ bê tông. Sự tiện lợi lớn của phương pháp trượt là tạo nên tính toàn khối hoá cho kết cấu và không có mạch ngừng. Những hiệu quả của hệ thống này mang lại là rút ngắn thời gian xây dựng (1 tầng trong 1 ngày) và giảm chi phí nhân công, giá thành cho chủ đầu tư
2.3. Công nghệ ván khuôn trượt

Phương pháp trượt sử dụng khái niệm ép đùn trong thi công bê tông. Kích thuỷ lực đưa cốp pha nâng lên một cách liên tục theo phương đứng trong khi quá trình đổ bê tông. Sự tiện lợi lớn của phương pháp trượt là tạo nên tính toàn khối hoá cho kết cấu và không có mạch ngừng. Những hiệu quả của hệ thống này mang lại là rút ngắn thời gian xây dựng (1 tầng trong 1 ngày) và giảm chi phí nhân công, giá thành cho chủ đầu tư

1.Công nghệ ván khuôn trượt

Phương pháp trượt sử dụng khái niệm ép đùn trong thi công bê tông. Kích thuỷ lực đưa cốp pha nâng lên một cách liên tục theo phương đứng trong khi quá trình đổ bê tông. Sự tiện lợi lớn của phương pháp trượt là tạo nên tính toàn khối hoá cho kết cấu và không có mạch ngừng. Những hiệu quả của hệ thống này mang lại là rút ngắn thời gian xây dựng (1 tầng trong 1 ngày) và giảm chi phí nhân công, giá thành cho chủ đầu tư

2.Mô tả về hệ kết cấu

Lõi trung tâm bằng bê tông cốt thép được thiết kế chịu toàn bộ tải trọng ngang (gió và động đất). Cột đúc sẵn và lõi được thiết kế chịu tải trọng đứng. Sàn làm việc như tấm phẳng truyền tải trọng động đất sinh ra do trọng lượng bản thân sàn và các tải trọng khác trên sàn tới kết cấu chịu lực động đất ( lõi nằm ở trung tâm công trình). Sự truyền tải trọng này được thực hiện thông qua lớp bê tông cốt thép được đổ tại chỗ trên mặt của sàn tiền chế. Lớp bê tông này liên kết các cấu kiện đức sẵn với nhau và truyền tải trọng ngang tới hệ lõi chịu lực. Phương pháp cấu tạo này cũng áp dụng để chịu tải trọng gió.
Hệ chịu lực chính là lõi sử dụng công nghệ trượt, lõi được đúc liên tục không có mạch ngừng và bê tông có chất lượng cao.

3. Cấu kiện dùng cho nhà cao tầng

Sử dụng kết cấu bê tông tiền chế trong các công trình có thể mang lại những hiệu quả to lớn như. các cấu kiện được sản xuất trong nhà máy, hiệu quả kinh tế cao và giảm thời gian xây dựng. Do vậy thiết kế nên hướng tới một kết cấu đơn giản với sự điển hình hoá cao nhất trong quá trình sản xuất, lắp dựng, liên kết và hoàn thiện kết cấu.
- Cột: Toàn bộ các cột có thể nằm trong tường nằm trong tường, và chúng ta sử dụng cùng chiều dầy với tường.
- Dầm: Dầm dự ứng lực tiết diện chự nhật nằm trong tường, với Dầm bao xung quanh chúng ta nên chọn chiều cao sao cho đáy dầm cùng cao trình với lanh tô cửa.
- Dầm dẹt: Đây là một thế mạnh của kết cấu bê tông tiền chế vì có thể tạo ra được những dầm dẹt ứng suất trước có khẩu độ khá lớn.
- Bản sàn: Với nhịp nhỏ hơn 3.6m ta dùng Sàn đặc dự ứng lực với tiết diện chữ nhật, Với nhịp khoảng 8m dùng sàn sườn hoặc có lõ rỗng tròn ở giữa có chiều dầy 150mm và 50 mm trên mặt tổng chiều dầy 200mm.
- Cầu thang: Sử dụng cầu thang dự ứng lực đúc sẵn trong nhà máy.
- Ban công: Bằng bê tông cốt thép thường được thiết kế với mô đun đặc biệt để có thể sử dụng với số lượng lớn

4.Hướng phát triển trong tương lai

Dự án Trung Hoà- Nhân Chính là một sự khởi đầu với nhiều nỗ lực trong việc áp dụng công nghệ mới kết hợp bê tông dự ứng lực tiền chế và công nghệ cốp pha trượt. Mặc dù bước đầu đã gặt hái được nhiều thành công, song cần phải tiếp tục nghiên cứu để trở thành một công nghệ xây dựng hoàn thiện ở Việt Nam. Một vài xu hướng phát triển trong tương lai như sau:
- Tạo ra các không gian lớn cho các công trình văn phòng, gara ô tô…
- áp dụng cho kết cấu các công trình cao tầng (>18 tầng).
- Sử dụng bê tông có cường độ cao từ 400Kg/cm2 đến 900KG/cm2 cho kết cấu cột.
- Sử dụng các giải pháp kiến trúc đặc biệt để tăng tính thẩm mỹ cho công trình.
Nguồn :QCPlaza

...
Kinh nghiệm xây nhà cao tầng trên nền đất yếu, bền vững theo thời gian, chất lượng ổn định, không bị hư hỏng.

Ở Nam Sài Gòn có nhiều khu vực nền đất yếu, thậm chí có nơi người dân còn gọi là “đất không chân”, nhưng ở đây vẫn có nhiều nhà cao tầng mọc lên, nhất là khu vực Phú Mỹ Hưng (ảnh). Các tòa nhà này bền vững theo thời gian, chất lượng ổn định, không bị hư hỏng như những tòa nhà tương tự ở khu vực khác.

 Thường khi xây dựng công trình trên nền đất có lớp đất sét dày sẽ gặp hai vấn đề: một là sức chịu tải do chống lực, hai là lún do nền đất chịu sức ép lớn. Trước đây các công ty xây dựng trong khu vực này đã thử xây dựng công trình nhiều tầng theo giải pháp đóng cừ tràm móng như các công trình thường sử dụng tại Việt Nam trước đây và thử xây dựng công trình móng bè nổi. Toàn bộ các giải pháp móng có độ sâu không lớn đều thỏa mãn được sức chịu tải nhưng không giải quyết được vấn đề lún, chỉ có cọc móng (có độ sâu lớn) mới có thể đồng thời giải quyết được vấn đề lún và sức chịu tải. Do đó, các công trình móng nhà trong khu phát triển trung tâm đô thị mới Nam Sài Gòn, chủ yếu sử dụng dạng thiết kế cọc móng định hình như cọc vuông bêtông đúc sẵn 250/250, 300/300, 350/350, 400/400, và các cọc này được tập trung sản xuất tại xưởng bêtông mà công ty xây dựng cùng hợp tác đầu tư và kiểm tra, quản lý chất lượng rất chặt chẽ.
Về cơ bản, các công trình tại đây không sử dụng cọc cừ tràm, móng nhà và cột nhà được xây dựng theo nguyên tắc trên dưới tương xứng. Riêng tòa nhà Lawrence S.Ting- văn phòng làm việc của Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng - đã sử dụng cọc nhồi chống sức đẩy nổi. Do các công trình xây dựng ngày càng cao, tải trọng ngày càng lớn, trong thời gian tới các kỹ sư dự kiến sử dụng cọc tròn bêtông dự ứng lực và cọc nhồi đường kính lớn cho các công trình sau này.
Phương pháp thi công móng công trình: Đối với công trình có hai tầng hầm như cao ốc Lawrence S.Ting, độ sâu đào đất tầng hầm là -11 m. Khi thi công đào đất tầng hầm, các kỹ sư sử dụng biện pháp bảo vệ bằng tường chắn đất và thanh chống bêtông, tường chắn đất này làm kết cấu bảo vệ lâu dài cho tầng hầm, sau khi tiến hành xử lý kỹ thuật bề mặt tường chắn đất sẽ đổ thêm tường bêtông cốt thép dày 200 mm kề với tường chắn đất và tiến hành xử lý chống thấm theo giải pháp chống thấm kết hợp thoát nước, đạt hiệu quả rất tốt.
Đối với công trình có một tầng hầm và công trình chỉ có nửa tầng hầm, khi thi công đào đất sử dụng biện pháp bảo vệ đơn giản, tạo mái dốc và làm thanh chống cục bộ, áp dụng giải pháp chống thấm bao bọc bên ngoài và bản thân kết cấu tự chống thấm cho tầng hầm, giải pháp này cũng đạt hiệu quả tốt. Nền nhà của công trình không xây trực tiếp trên nền đất yếu mà xây sàn rỗng bêtông cốt thép để tránh hiện tượng lún nền nhà xảy ra. Mặt khác, để tránh lún tại các công trình phụ nằm xung quanh công trình chính, các kỹ sư sử dụng biện pháp tạo khe lún để tách riêng công trình và xử lý tăng cường bảo vệ kịp thời. Về công trình đường, họ sử dụng biện pháp dự trù độ lún nền đường, ban đầu chỉ làm mặt đường tạm, sau khi nền đường lún ổn định mới làm mặt đường chính thức.
Về mặt quản lý chất lượng: công trình ở đây được duy trì theo hướng phát triển chất lượng sản phẩm cao nhất. Trong quá trình xây dựng, công ty xây dựng áp dụng rất nhiều biện pháp khống chế có hiệu quả, chẳng hạn như tập trung một địa điểm trộn bêtông và gia công cốt thép, còn các vật tư chính sẽ được tập trung do chủ đầu tư mua và cung cấp cho đơn vị thi công. Do những biện pháp quản lý nghiêm ngặt và chủ đầu tư trực tiếp cung ứng vật tư đến tận công trình với việc tổ chức giám sát của chủ đầu tư và tư vấn giám sát, từ đó tất cả các công trình đều thi công đúng tiến độ, đúng chất lượng, đúng thiết kế và điều đó đã chứng minh các công trình xây dựng nhà ở nói chung và nhà cao tầng trên nền đất yếu nói riêng đảm bảo được chất lượng.
Về kỹ thuật thi công: các công ty xây dựng ở đây áp dụng kỹ thuật chống sạt lở khi đào hố móng có độ sâu lớn và đào đất mềm với tốc độ nhanh, kỹ thuật dựng cốp pha kích cỡ lớn, bêtông có tính năng và cường độ cao, sử dụng phổ biến cốt thép cường độ cao, kỹ thuật nối cốt thép đường kính lớn, sử dụng cốp pha và dàn giáo kiểu mới, thi công dự ứng lực không kết dính... Ngoài ra, họ cũng đưa vào kỹ thuật mới xử lý nước thải oxy hóa... Ngoài ra, họ còn đưa vào máy ép cọc tự chuyển động có tải trọng lớn; kỹ thuật khung lưới cốt thép, cọc tròn bêtông dự ứng lực...
Về mặt nghiệm thu công trình: trong quá trình thi công, chủ đầu tư mời kỹ sư của đơn vị giám sát tiến hành trực tiếp giám sát tại hiện trường, nghiệm thu công trình che khuất, nghiệm thu từng bộ phận, từng hạng mục và nghiệm thu sơ bộ hoàn công công trình. Sau khi nghiệm thu sơ bộ được thông qua, chủ đầu tư, đơn vị giám sát và nhà thầu cùng tiến hành nghiệm thu, sau khi đạt yêu cầu sẽ mời các ban ngành liên quan của Nhà nước tiến hành nghiệm thu hoàn công, toàn bộ công trình chỉ được bàn giao sau khi nghiệm thu đạt yêu cầu.
Theo KHPT

...
Trạm trộn bê tông công nghệ cao, điều khiển tự động với máy tính công nghiệp.

Nâng cao chất lượng điều khiển đối với hệ thống công nghiệp luôn là yêu cầu hàng ngày đặt ra với các kỹ sư thiết kế.

 Nâng cao chất lượng điều khiển đối với hệ thống công nghiệp luôn là yêu cầu hàng ngày đặt ra với các kỹ sư thiết kế. Trên cơ sở phân tích các ưu nhược điểm của hệ thống điều khiển trạm trộn xi măng trước đây, tác giả đã đưa ra cấu hình điều khiển mới, trên cơ sở ứng dụng máy tính công nghiệp nhằm nâng cao tính linh hoạt trong sử dụng, giảm giá thành sản phẩm và dễ dàng trong quá trình bảo hành. Kết quả có được trong cài đặt hệ thống thực đã chứng minh tính đúng đắn của hệ thống thiết kế mới.
Từ những năm đầu của thập kỷ 90 đến nay, Viện máy và dụng cụ công nghiệp (IMI) đã đưa ra các cấu hình trạm trộn bê tông khác nhau với năng suất từ 10 - 100 m3/h với các chỉ tiêu kỹ thuật tốt, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của thị trường trong nước. Tuy nhiên, hệ thống điều khiển của các trạm trộn đó còn phụ thuộc nhiều vào các sản phẩm ngoại nhập như bộ điều khiển quá trình BUCODAT, từ Đức, bộ điều khiển khả trình PLC và các thiết bị hiển thị ngoại nhập như: hệ thống không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà có thể vươn ra thị trường thế giới, hệ điều khiển của các hệ thống trạm trộn này đã được xem xét hiện đại hoá. Trên cơ sở đó, tác giả đã nghiên cứu lại các cấu hình cũ của hệ điều khiển trạm trộn nhằm đưa ra một cấu hình mới đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Tối ưu hoá giá thành, song vẫn đạt được yêu cầu về chỉ tiêu kỹ thuật

- Hệ điều khiển có tính tiêu chuẩn, làm tiền đề cho sự phát triển về sau

- Đáp ứng các yêu cầu về chất lượng điều chỉnh, hệ điều khiển vòng kín

Phân tích các cấu hình trạm trộn hiện đại

Hiện nay, tuy trên thị trường có nhiều cấu hình trạm trộn khác nhau song chủ yếu vẫn sử dụng là 2 cấu hình trạm sử dụng các bộ điều khiển quá trình là BUCODAT và PLC.
 

Trạm trộn bê tông sử dụng BUCODAT
 Với hai cấu hình trên, mặc dù hệ thống làm việc khá ổn định song chi phí sản xuất lịa cao do phụ thuộc quá nhiều vào các sản phẩm ngoại nhập đặc biệt là bộ điều khiển. Để đáp ứng được các nhu cầu điều khiển đặt ra nhưng sản phẩm vẫn mang tính kinh tế khi sử dụng, tác giả lựa chọn thiết bị điều khiển quá trình là máy công nghiệp vì các lý do sau:

- Tính ổn định của máy công nghiệp

- Tính linh hoạt của máy công nghiệp: Có thể dễ dảng thay đổi luật điều khiển trên cơ sở thay đổi phần mềm điều khiển

- Tính tiêu chuẩn hoá: Có thể tiêu chuẩn hoá được hệ thống trạm trộn trên cơ sở xây dựng hệ thống phần mềm tiêu chuẩn.

Thiết kế hệ điều khiển trên nền tảng máy công nghiệp

 

Với phân tích đó, tác giả đã đưa ra cấu hình mới cho hệ điều khiển, với máy tính công nghiệp là bộ điều khiển trung tâm như sau:
Với cấu hình như trên, máy tính đóng vai trò một bộ điều khiển có nhiệm vụ đưa ra các thuật toán điều khiển trên cơ sở các tín hiệu thu thập được từ card I/O, card I/O có nhiệm vụ thu thập dữ liệu từ tủ điều khiển về máy tính, đồng thời đưa tín hiệu điều khiển từ máy tính tới tủ điều khiển nhằm điều khiển quá trình. Do sử dụng máy tính công nghiệp, nên việc áp dụng các luật điều khiển hiện đại như luật điều khiển mờ, luật điều khiển thích nghi được tận dụng triệt để nhằm tăng độ chính xác và đáp ứng được các yêu cầu về chỉ tiêu chất lượng của hệ thống. Như đã đề cập, để đáp ứng được các yêu cầu đặt ra thiết kế của phần mềm quản lý máy tính chủ phải thoả mãn các tiêu chí sau:

- Thiết kế mang tính mở: Thiết kế mới phải là nền tảng cho các thiết kế sau này nhằm đạt được mục tiêu xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn.

- Thiết kế mang tính chất tổng quát hoá: Có thể áp dụng cho mọi cấu hình trạm trộn, và mọi card giao tiếp có sẵn mà phải đáp ứng được mọi yêu cầu công nghệ.

- Thiết kế đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật và kinh tế: Cho phép tích hợp các điều luật điều khiển hiện đại nhằm nâng cao chất lượng điều chỉnh, và tính ổn định của hệ thống, đồng thời giảm giá thành sản xuất.

Thiết kế và xây dựng phần mềm tổng quát

Từ các yêu cầu đặt ra, mô hình mẫu cho phần mềm tổng quát được xây dựng trên ngôn ngữ C++. Trên cơ sở các lớp cơ sở ảo CBASECARD, CBASECONTROLER, và lớp CBASECONTROLER tương ứng với CPCI 1711CARD, CIOCARD... và CONTROLER1, CONTROLER2... được phân chia thành các MODUL độc lập. Việc phát triển hệ thống dựa trên việc phát triển và hoàn thiện hoá các MODUL này. Hơn nữa cấu trúc như trên rất thuận tiện vcho việc phát triển hệ thống gồm nhiều lập trình viên tham gia, do vậy hệ thống mang tính tổng quát hoá. Bên cạnh đó, người dùng chỉ được can thiệp vào lớp Cinterface, việc cấu hình cho các card hay các trạm cụ thể được thực thi nhờ hai phương thức ConfigCard (CBASECARD *) và ConfigCtrl (CBASECONTROLER*). Nhờ đó mà phần mềm hệ thống mang tính đóng gói.

Áp dụng phần mềm tổng quát cho trạm trộn công suất vừa, sử dụng card giao tiếp PC1711

Card PCI - 1711 là sản phẩm của hãng Advantech. Card PCI -1711tích hợp với bus PCI của máy tính công nghiệp được sử dụng để thu thập dữ liệu. Card PCI - 1711 cung cấp cho người dùng các chức năng điều khiển 16 kênh đầu vào ADC 12 bit, tần số mẫu 100Khz; 16 kênh vào số; 16 kênh ra số; 2 kênh đầu ra DAC, các bộ timer/counter tần số cao.
Như đã đề cập ở phần trên, việc phát triển hệ thống dựa trên cơ sở phát triển các MODUL độc lập. Với cấu hình trạm trộn bằng tải sử dụng card PCI - 1711, các tín hiệu đo lường và điều khiển được tổ chức như sau: 3 kênh đo tín hiệu tương tự từ loadcell tương ứng với đầu đo cân cốt liệu, xi măng, nước; 10 kênh tín hiệu ra số; 11 kênh tín hiệu vào số. Quá trình trộn tự động gồm 4 quá trình độc lập: 3 quá trình định lượng: cốt liệu, xi măng, nước; 1 quá trình điều khiển toàn bộ quá trình. Để thực hiện các quá trình một cách song song và độc lập nhau ta sử dụng phương pháp đa luồng (Multithreading) để kích hoạt các quá trình chạy độc lập nhau.

Kết luận

Toàn bộ hệ thống trạm trộn đã được thiết kế hoàn chỉnh cả phần cứng lẫn phần mềm. Đồng thời, việc áp dụng thiết kế cho hệ thống điều khiển trạm trộn sử dụng card PCI 1711 trên cơ sở áp dụng mô hình tổng quát của thiết kế, được lắp đặt cho chi nhánh công ty đầu tư xây dựng xuất nhập khẩu Việt Nam tại Hải Phòng, hoạt động rất ổn định, đáp ứng được yêu cầu về điều khiển song vẫn tối ưu hoá được giá thành sản xuất và đã chứng minh tính đúng đắn của thiết kế. Thiết kế là tiền đề cho việc tiêu chuẩn hoá hệ thống trạm trộn sử dụng máy tính công nghiệp. Việc phát triển hệ thống dựa trên cơ sở phát triển các Module độc lập và giúp đưa được lý thuyết điều khiển hiện đại nhằm tăng độ chính xác của hệ thống.

...
Ứng dụng tấm côppha bê tông trong thi công sàn bê tông toàn khối nhà cao tầng
 Các công trình cao tầng hiện nay hầu hết là nhà kết cấu bê tông cốt thép (BTCT) Sự phát triển của bê tông và cốt thép cường độ cao đã đưa đến khái niệm về kết cấu BTCT nhà cao tầng.

Để có thể sử dụng các loại vật liệu cường độ cao này, đòi hỏi phải có các thiết bị cũng như biện pháp thi công mới.

Lịch sử công nghệ nhà cao tầng đã trải qua nhiều giai đoạn. Trong thế kỷ 20, trước năm 1946, hầu hết các nhà cao trên 20 tầng là kết cấu thép. Từ đầu những năm 50 và đặc biệt 25 năm gần đây các công trình bằng BTCT đã bắt đầu cạnh tranh chiều cao với các công trình kết cấu thép. Trước đây việc vận chuyển vật liệu lên cao chủ yếu bằng tháp nâng khung gỗ, động cơ xăng, bê tông trộn tại chỗ 3-4m3 và đưa đến vị trí bằng máng nghiêng, đổ bê tông bằng xe đẩy và kết hợp với nhân công. Đầu những năm 50 đã áp dụng tời trên khung thép với động cơ điện, bê tông và các vật liệu khác có thể vận chuyển cao tới 150m với tốc độ 120m/phút. Ngày nay việc sử dụng vận thăng kết hợp với cẩu tháp tự leo đang là những thiết bị tiên tiến và phù hợp nhất. Bê tông trộn sẵn ở trạm trộn tập trung (bê tông thương phẩm) có mức độ cơ giới hoá cao và vận chuyển đến công trình bằng xe trộn lưu động đáp ứng mọi nhu cầu tiến độ. Công nghệ vật liệu và hoá chất xây dựng cũng đã đạt nhiều thành tựu đáng kể cho phép nâng cao công nghệ xây dựng nhà cao tầng.

Nói đến thi công công trình cao tầng, chúng ta cần quan tâm đến một vấn đề hết sức quan trọng đó là kết cấu bê tông đổ tại chỗ hay kết cấu lắp ghép kết hợp đổ bê tông tại chỗ để có thể đưa ra sự lựa chọn cho phù hợp. Hiện nay, trong các công trình cao tầng ở nước ta một công nghệ mới đang được áp dụng đó là tấm côppha bê tông sàn đúc sẵn, thay thế cho côppha sắt hoặc gỗ là một phần của tấm sàn BTCT toàn khối. Với công trình nhà cao tầng khối lượng đổ bê tông tại chỗ lớn, nên công tác ván khuôn đóng vai trò khá quan trọng trong quy trình và kỹ thuật thi công công trình Giá thành ván khuôn thi công cho một công trình cũng có một vai trò đáng kể trong giá thành xây dựng chung. Mặt khác công tác thi công ván khuôn còn quyết định một phần tiến độ thi công.

Các nước phát triển trên thế giới trước đây cũng như ở nước ta từ khi bắt đầu xây dựng các công trình cao tầng đã áp dụng rất nhiều phương pháp để thi công côppha sàn và các loại côppha có những tên gọi chuyên dùng sau đây:

- Ván khuôn sàn lắp ráp sử dụng giáo chống; ván khuôn bản rộng cẩu lắp theo phương pháp ván khuôn bay; Ván khuôn trượt tường hầm thang và các ô cứng; Ván khuôn bản lớn; Ván khuôn leo thi công tường vách; Ván khuôn định hình bằng nhựa hoặc bằng sắt; Ván khuôn BTCT cho sàn đổ bê tông toàn khối.

Khác với côppha thông tường được làm bằng gỗ hoặc ván ép hoặc côppha định hình bằng thép sau khi đổ bê tông chờ cho đến khi bê tông đạt cường độ tiêu chuẩn mới được tháo dỡ côppha sau đó phải bảo dưỡng hoặc sửa chữa, thì tấm côppha BTCT được đổ bằng bê tông đá nhỏ có cốt thép bên trong thường dày từ 60 ÷ 100mm và mác bê tông thường lớn hơn mác bê tông của sàn. Hình dáng của tấm có thể là hình chữ nhật, hình thang, kích thước được xác định theo tính toán để đảm bảo phù hợp với sức nâng của cần cẩu độ bền của tấm trong quá trình thi công không bị gẫy khi cẩu vào vị trí và đảm bảo sự làm việc của  tấm với phần bê tông đổ sau như một khối thống nhất theo sơ đồ kết cấu ban đầu. Mặt tiếp giáp giữa mặt trên của tấm và phần bê tông đổ sau không bị trượt qua nhau. Mối nối ướt giữa tấm và phần bê tông đổ sau không bị phá hoại.

Mặt trên của tấm côppha bê tông (mặt tiếp giáp với phần bê tông đổ sau) tuyệt đối không được xoa nhẵn, mà phải tạo nhám và có các gân bê tông để tạo lực dính bám với bê tông

đổ sau. Mặt dưới của tấm có thể xoa phẳng nhẵn vì nó có thể là trần nhà.

Cốt thep trong tấm được chia làm mấy loại như sau:

+ Lưới thép đặt trong tấm có cấu tạo như lưới thép của bản sàn và được xác định theo yêu cầu.

+ Thép chờ là thép cấu tạo thường bố trí vòng quanh chu vi của tấm để neo lưới cốt thép trên trong tấm vào phần sàn bê tông đổ sau.

+ Râu thép có thể coi như các móc cẩu, nhưng khi đã vào vị trí thì nó được coi như thép giá để định vị khoảng cách giữa hai tấm lưới thép.

+ Thép gia cố giữa các móc cẩu...

Tấm côppha bê tông thông thường cũng được thiết kế định hình để có thể sản xuất hàng loạt cho các tầng được đổ tại công trình, nếu có diện tích mặt bằng cho phép đổ tại chỗ hoặc được sản xuất tại nhà máy sau khi đủ ngày tuổi được vận chuyển đến công trường để cẩu lắp vào vị trí. Tấm côppha bê tông được đặt lên trên dàn giáo chống được lắp đặt phía dưới và cũng được thiết kế chi tiết.

Những tấm côppha này cũng có râu thép chờ để liên kết với nhau và có gờ để liên kết với phần bê tông đổ sau. Khi bê tông đổ sau đã liên kết với tấm côppha bê tông này và đủ cường độ tiêu chuẩn thì chỉ việc tháo dỡ cây chống hoặc giáo chống bên dưới là xong. Loại ván khuôn này góp phần đẩy nhanh tiến độ thi công một cách đáng kể. Phương pháp này được gọi là phương pháp thi công bán lắp ghép.

Với những công trình cao tầng và diện tích sử dụng lớn, việc sử dụng phương pháp thi công  bán lắp ghép với các tấm côppha bê tông đúc sẵn - là một phần kết cấu sàn - sẽ làm cho giá thành công trình giảm.

Ở nước ta một số các công trình lớn đã và đang sử dụng biện pháp thi công này như Khách sạn Hà Nội Opera Hinton, Nhà làm việc Khoa Pháp văn Đại học Sư phạm Hà Nội.

Công trình nhà chung cư 17 tầng khu đô thị mới Trung Hoá - Nhân Chính do TCty Vinaconex thiết kế và thi công đã áp dụng biện pháp thi công bán lắp ghép với các tấm côppha bê tông - là một phần của kết cấu sàn.

Trình tự thi công sàn toàn khối khi sử dụng tấm côppha bê tông đúc sẵn:

- Chế tạo trước tấm côppha bê tông tại hiện trường hoặc nhà máy.

- Lắp dựng hệ thống cột hoặc giáo chống đỡ kết hợp các xà gồ đỡ.

- Sau khi lắp dựng xong hệ thống cột chống và giáo đỡ, thì tiến hành cẩu lắp các tấm côppha bê tông đúc sẵn lên trên hệ thống giàn giáo thay cho côppha đáy của kết cấu sàn BTCT đang thi công.

- Liên kết  các mối nối giữa các phần tấm côppha bê tông đúc sẵn bằng các râu thép chờ sẵn, rải thép sàn trực tiếp lên tấm côppha bê tông này.

- Đổ bê tông phần kết cấu còn lại toàn khối với các mối nối giữa các phần kết cấu đã đúc sẵn, bảo dưỡng theo quy phạm.

- Tháo dỡ cây chống, dàn giáo chống, xà gồ để lại các tấm côppha bê tông đã được liên kết toàn khối với lớp bê tông đổ sau.

Như vậy có thể hiểu kết cấu sàn BTCT toàn khối đã được thi công thành hai lớp kết cấu có đặc trưng cơ lý khác nhau, nhưng làm việc tương tác với nhau giống như kết cấu hỗn hợp gồm nhiều thành phần vật liệu. Để có thể áp dụng công nghệ bán lắp ghép trong việc thi công các công trình bê tông kích thước lớn dạng tấm hoặc bản chúng ta cần phải: biết nguyên lý cấu tạo các tấm côppha bê tông và phương pháp tính toán loại kết cấu BTCT có cấu tạo hai lớp, trong đó một lớp là BTCT được chế tạo định hình sẵn và sử dụng như tấm côppha và lớp thứ hai là BTCT đổ tại chỗ sau khi lắp dựng xong các tấm côppha trên,

có thể sử dụng tấm côppha bê tông theo các bước sau:

Bước 1: Tương tự như các côppha thông thường ta cũng tiến hành lắp dựng các cột chống đỡ côppha bê tông có thể bằng gỗ, bằng thép hoặc bằng  khung dàn giáo. Sau đó tiếp tục lắp các xà gồ đỡ tấm nằm trên các đầu cột chống tương tự như biện pháp thông thường khi thi công  cột - dầm dỡ côppha của các sàn sử dụng  tấm côppha bằng gỗ hoặc bằng tấm thép. Thông thường nên lắp các xà gồ đỡ tấm song song theo một phương trong một ô bản sàn với khoảng cách giữa các xà gồ thông thường là 500 - 600mm.

Bước 2: Sau khi đã lắp dựng xong cột chống, xà gồ đỡ tấm côppha bê tông ta căn chỉnh, kiểm tra cao độ  của hệ xà gồ đỡ sao cho đúng cao độ thiết kế và bắt đầu tiến hành  cẩu lắp tấm bê tông côppha vào vị trí đã được thiết kế trước. Các tấm cần được đánh số và đánh dấu vị trí lắp dựng tránh hiện tượng nhầm lẫn.Trong khi cẩu lắp các tấm, cần phải được nằm ngang, các dây cẩu phải căng đều không được lệch nhau. Sau khi lắp xong các tấm cho một khu sàn cần kiểm tra lại cao độ các tấm không hoàn toàn thẳng theo đúng thiết kế có thể cong vênh, khi tấm bắt đầu chịu tải trọng sinh ra hiện tượng nứt gẫy.

Trước khi tiến hành bước 3 một công việc cũng hết sức cần thiết nữa là nếu đối với các tầng ở trên thì khi dùng khung giáo làm cột chống thì ta cần kiểm tra các chân khớp nối giữa các chân giáo đã xuống hết chưa hoặc các chân kích và đầu kích đã được tăng hết cỡ chưa. Còn đối với  tầng một nếu chân giáo đặt trên nền đất yếu, cần phải kiểm tra nền đất hoặc kê kích sao cho khi bắt đầu chịu tải các giàn giáo không bị lún hoặc lún lệch.

Bước 3: Tiếp tục lắp các tấm côppha thành dầm (ở đây ta mới chỉ nghiên cứu việc làm côppha cho sàn, còn dầm cột và vách đổ bê tông tại chỗ), hoặc cho phần đổ bù giữa tấm này và tấm kia hoặc giữa các tấm với vách cứng. Việc ghép côppha này tiến hành theo đúng các phương pháp truyền thống. Đối với  những phần bù thêm này khi ghép côppha (có thể bằng gỗ hoặc bằng sắt có chiều dày nhỏ hơn tấm côppha bê tông) cần chú ý cao độ của các tấm côppha này sao cho khi dỡ côppha phần bê tông đổ thêm này liền khối với phần bê tông của tấm. Vì phần bê tông của tấm có thể được sử dụng làm trần không cần trát mà chỉ cần bả lại và sơn hoàn thiện.

Bước 4: Sau khi tiến hành xong bước ba, ta cần vệ sinh rửa bề mặt côppha kể cả côppha bê tông vì trong qúa trình cẩu lắp tấm công nhân đi lại trên sàn hoặc những phần lắp ghép thêm côppha cho phần tiếp giáp của tấm với các phần khác có thể bằng gỗ sẽ làm bẩn bề mặt côppha làm ảnh hưởng đến khả năng bám dính của hai phần bê tông.

Tiếp theo, tiến hành rải các lớp thép cấu tạo hoặc theo thiết kế của các phần nối và của sàn. Việc rải các lớp thép này tuỳ thuộc vào mối nối của tấm các phần còn lại mà các lớp thép có thể là cấu tạo hoặc là theo tính toán thiết kế.

Bước 5: Trước khi tiến hành bước đổ bê tông, cần tưới nước rửa lại ván khuôn và thép một lần nữa để đảm bảo cho bê tông được bám dính tốt hơn. Sau đó tiến hành đổ bê tông như bình thường. Và tiến hành bảo dưỡng bê tông theo đúng quy trình và quy định bảo dưỡng bê tông đã được đặt ra.

Bước 6: Sau khi bê tông đã đủ thời gian quy định, thì tiến hành tháo dỡ cột chống và xà gồ của sàn, đồng thời tháo dỡ côppha của phần dầm hoặc phần nối giữa các tấm hoặc các tấm với phần khác. Lúc này tấm đã được gắn với phần bê tông đổ sau như một khối thống nhất.

Từ những tính chất nêu trên, chúng ta thấy rằng để tăng khả năng chịu lực và tăng nhịp (chiều dài, chiều rộng cho tấm), đồng thời giảm mác bê tông có thể sử dụng các loại tấm côppha bê tông ứng suất trước hoặc dùng vật liệu nhẹ làm phần lõi của kết cấu nhằm làm giảm trọng lượng của công trình và giảm giá thành xây dựng. Tuy nhiên, việc chế tạo sản

xuất các tấm côppha bê tông này chi phí ban đầu cũng khá lớn. Để giảm giá thành trong

xây dựng, chúng ta cần phải có nhiều công trình thiết kế sử dụng loại côppha này.

Th.S Nguyễn Hoài Nam
(Nguồn tin: Thông tin KHCN Đại học Kiến trúc Hà Nội, số 1/2007)


...
Lượt truy cập : 51219
Bản quyền thuộc Công ty cổ phần Bê Tông Hoà Cầm
Thiết kế bởi EBS Group VietNam